Rò phế quản – màng phổi

Định nghĩa

Lỗ rò phế quản màng phổi là một đường dẫn bất thường phát triển giữa phế quản và khoang màng phổi. Khi một lỗ rò như thế phát triển, không khí hít vào có thể đi qua lỗ rò và đi vào khoang màng phổi thay vì đi vào phổi để thực hiện chức năng hô hấp.

Nguyên nhân

Có một số  tình trạng gây ra  lỗ rò màng phổi là:

  • Phẫu thuật ung thư phổi: phẫu thuật cắt phổi (cắt bỏ một phần phổi hoặc một bên phổi) do ung thư phổi là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra lỗ rò phế quản màng phổi. Khả năng gây ra lỗ rò phế quản màng phổi xảy ra cao nhất ở những bệnh nhân cắt bỏ hoàn toàn một bên phổi, rồi đến cắt bỏ một thùy phổi hoặc cắt bỏ một phần của của một phân thùy phổi. Trong một nghiên cứu năm 2016 người ta thống kê thấy có 1,4% những người bị cắt bỏ thùy phổi và 14,3% những người bị cắt một bên phổi  hình thành lỗ rò sau phẫu thuật
  •  Nhiễm khuẩn, đặc biệt là một số loại bệnh viêm phổi dẫn tới sự hủy hoại các mô gọi là hoại tử phổi.
  • Bệnh tràn khí màng phổi tự phát mạn tính
  • Hoá trị liệu hoặc xạ trị ung thư phổi: bất kỳ phương pháp điều trị nào gây tổn hại cho tế bào và hồi phục sau đó trong khu vực của màng phổi có thể dẫn đến sự hình thành một lỗ rò.
  • Bệnh lao.
    Rò phế quản - màng phổi

Mức độ phổ biến của bệnh

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ xuất hiện của lỗ rò phế quản rất khác nhau, nhưng có vẻ như xảy ra trong khoảng từ 1,5 đến 28% các ca phẫu thuật liên quan đến việc cắt bỏ phổi. Như đã đề cập ở trên, phẫu thuật cắt bỏ càng lớn thì khả năng xảy ra lỗ rò sau khi phẫu thuật càng cao đặc biệt cắt bỏ phế quản bên phải, hoặc khi cần thông khí cơ học trong một thời gian dài sau phẫu thuật và khi liều lượng phóng xạ cao được cho trước để phẫu thuật.

Một lỗ rò phế quản phổi thường xuất hiện khoảng 1 đến 2 tuần sau phẫu thuật phổi, thậm chí là một tháng sau khi phẫu thuật.

Triệu chứng

Như được lưu ý dưới đây trong chẩn đoán, một lỗ rò phế quản – màng phổi thường được chẩn đoán dựa trên hình ảnh khi phát hiện không khí rò rỉ liên tục. Khi các triệu chứng có mặt, chúng có thể dễ dàng bị bác bỏ vì chúng là những triệu chứng có thể xảy ra sau khi bị nhiễm trùng phổi và phẫu thuật, như ho dai dẳng, ho ra máu, hoặc khó thở.

Chẩn đoán

Chẩn đoán của lỗ rò phế quản màng phổi thường được thực hiện dựa trên các kết quả chụp X quang. Chụp CT thường được lựa chọn để chẩn đoán tình trạng và có thể cho thấy không khí hoặc dịch  tăng lên (thường là mủ hoặc niêm mạc) trong khoang màng phổi.

Một lỗ rò phế quản màng phổi thường được nghi ngờ trên lâm sàng bằng cách ghi nhận một sự rò rỉ khí liên tục. Nói cách khác, các đường rò này thường được phát hiện khi một ống ngực không thể rút được sau khi phẫu thuật phổi do một rò rỉ khí liên tục. Có thể có sủi bọt liên tục, hoặc thay vào đó, rò rỉ không khí khi bạn hít vào hoặc thở ra. Với lỗ rò không khí nhỏ, sủi bong bóng chỉ có thể có mặt trong thời gian thở ra hết sức hoặc ho

Điều trị

Điều trị có thể được thực hiện bằng phẫu thuật, hoặc nội soi thông qua ống soi phế quản (đôi khi đây là phương pháp duy nhất nếu bệnh nhân không ổn định) và các nghiên cứu gần đây cho thấy thủ thuật nội soi có thể an toàn hơn và hiệu quả hơn.

Bất kể thủ thuật nào, thì dẫn lưu dịch trong khoang màng phổi (thông qua chọc màng phổi hay duy trì ống ngực) và các kháng sinh đường tĩnh mạch là rất quan trọng.

Phẫu thuật có thể được sử dụng để đóng lỗ rò hay còn gọi là Phẫu thuật nội phế quản: trong thủ thuật này, lỗ rò được tiếp cận và dán keo hoặc chất trám kín để đóng đường đi. Các hóa chất này (thường là bạc nitrat) có tác dụng gây viêm ở lỗ rò dẫn đến sẹo và đóng kín lỗ rò một cách hiệu quả để làm mất đi đường thông bất thường.

Tiên lượng

Lỗ rò phế quản màng phổi là một biến chứng nghiêm trọng của phẫu thuật ung thư phổi với tỷ lệ tử vong (tử vong) dao động từ 10 đến 27 %. Với việc chẩn đoán chính xác và cách điều trị bảo tồn,thì tiên lượng của lỗ rò phế quản màng phổi sẽ  rất tốt.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tràn khí màng phổi

Viện y học ứng dụng Việt Nam
Theo Verywell